Lạc tiên là một loại dược liệu thường được sử dụng trong y học cổ truyền với các công dụng nổi bật như an thần, cải thiện chứng mất ngủ, ngủ không ngon giấc, thanh nhiệt cơ thể,… Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, cây lạc tiên cũng có một số tác dụng dược lý rất có lợi cho sức khỏe. Cùng Lila tìm hiểu về các thành phần, công dụng cũng như thành phần nổi bật tạo nên công dụng cho dược liệu này nhé.

Lạc tiên, còn gọi là cây lạc, người dân Nam Bộ gọi là cây/dây nhãn lồng, dây chùm bao, (danh pháp khoa học: Passiflora foetida), thuộc Họ Lạc tiên (Passifloraceae), là một loại cây có lá và quả ăn được. Cây có nguồn gốc từ tây nam Hoa Kì, Mexico, vùng Caribe, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Ở Việtt nam cây mọc rải rác trong các lùm bụi ven đường, ven rừng với các đặc điểm dễ dàng nhận biết như: Là dạng cây leo bằng tua cuốn có nhiều lông mềm. Lá mọc so le, phiến chia 3 thuỳ, gân lá chân vịt, hai mặt có lông. Tua cuống mọc ở kẻ lá cuộn lại như lò xo. Hoa to, đều, mọc riêng lẻ ở kẻ lá, tổng bao gồm 3 lá bắc rời nhau chia thành những dải nhỏ như sợi, gốc tràng có hai vòng phần phụ hình sợi màu tím. Quả hình cầu được bao bọc bởi tổng bao lá bắc tồn tại, quả có màu xanh khi non, chín có màu vàng chứa các hạt nhỏ có lớp áo hạt ăn được. Loài này có thể dễ nhầm lẫn với loài lạc tiên hoa tía hay còn gọi là chanh leo (danh pháp khoa học Passiflora incarnata L.) là dây leo không có lông (cây non có ít lông), thân cây có vân dọc, màu lục xám cũng là loài có nhiều tác dụng trong chữa bệnh.

Bộ phận dùng: Bộ phận trên mặt đất, tốt nhất là đoạn thân mang lá nhưng ngoại trừ phần rễ.
Thành phần hóa học:
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy cây Lạc tiên chứa alkaloid, flavonoid glycosid, phenol protein, cholesterol, tannin, chất béo và acid amin.
Quả chứa một lượng lớn alkaloid và flavoid cũng như các khoáng chất như Canxi, Magiê, Phốt pho,… Qủa có khả năng chống viêm và chống nhiễm trùng do ức chế tổng hợp prostaglandin. Lá Lạc tiên chứa các alkaloid (harman, harmin, harmol, harmalin, harmalol), flavonoid (saponarin, saponaretin, vitexin, xylosyl vitexin) và các hợp chất cyanogenic. Hàm lượng các chất trong thân thấp hơn so với lá.
Công dụng của cây Lạc Tiên trong y học cổ truyền Việt Nam và trên thế giới
- Lạc tiên được dùng làm thuốc an thần, chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh.
- Lá của cây Lạc tiên đã được sử dụng rộng rãi như phương pháp trị liệu truyền thống cho chứng mất ngủ, cuồng loạn, emmenagogue, song tính, hen suyễn và viêm da ở một số nước như Ấn Độ, Nigeria, Brazil và cả ở La Reunion (Dhawan et al., 2004).
- Theo truyền thống, toàn cây tươi hoặc khô cũng như các chế phẩm của chúng được chấp nhận dùng làm thuốc ở Mỹ, Đức, Pháp và các nước châu Âu khác để điều trị chứng lo âu căng thẳng (Felter vàLloyd, 1898; Blumenthal, 1997; Speroni và Minghetti , 1988)
- Ở Brazil, thảo mộc được sử dụng dưới dạng nước thơm hoặc thuốc đắp cho bệnh ban đỏ và các bệnh viêm da (Chopra etal., 1944)
Các nghiên cứu về Công dụng của cây Lạc Tiên trong y học hiện đại
Lạc tiên là một cây thuốc nổi bật trong y học với các thành phần chính như flavonoid, glycosid, alkaloid, phenolic và các thành phần dễ bay hơi có khả năng trị liệu tiềm năng. Vì vậy, nhiều nhà khoa học đã chiết xuất hoạt chất và bào chế các sản phẩm thuốc từ nguồn dược liệu này với các công dụng chính sau:
- Tác dụng giảm lo âu, chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh của Lạc Tiên
Lo lắng, mất ngủ là căn bệnh phổ biến trong xã hội ngày nay. Đặc biệt sau khi đại dịch covid-19 bắt đầu, sự căng thẳng của nhân viên y tế cũng như tình trạng mất ngủ, tràm cảm nhẹ của bệnh nhân hậu covid ngày càng gia tăng. Khi căng thẳng gia tăng và kéo dài, có thể dẫn tới tình trạng kiệt sức và các hệ lụy về sức khỏe tinh thần khác. Thông thường, thuốc điều trị lo âu hoặc thuốc ngủ, phổ biến nhất là benzodiazepin, thường được kê đơn sử dụng. Tuy nhiên việc sử dụng những loại thuốc này cũng đang gặp những vấn đề không mong muốn. Khi sử dụng trong thời gian ngắn, do tính chất an thần, chúng có thể gây mất trí nhớ, giảm chất lượng giấc ngủ và có thể giảm sự tỉnh táo ở người lái xe. Những tác nhân này cũng gây ra chứng mất ngủ và lo lắng tái phát sau khi ngừng sử dụng. Khi sử dụng lâu dài, có thể dẫn đến sự phụ thuộc và gây ra các tác dụng phụ như buồn ngủ, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa và chóng mặt (Alternative & complementary therapies—December 2004).
Các nghiên cứu khoa học hiện nay đang dành sự quan tâm tới hướng sử dụng các sản phẩm từ thảo dược cho việc cải thiện tình trạng mất ngủ, giảm lo âu và suy nhược thần kinh. Theo lịch sử sử dụng các loại thảo dược đã chứng minh tính an toàn và không có tác dụng phụ. Một trong những loại thảo dược thần kinh an toàn và phổ biến nhất là Lạc tiên. Loại thảo mộc này thường được sử dụng trong các công thức thảo dược giúp ngủ ngon cũng như trong các công thức làm dịu để điều trị chứng lo âu. Ở Đức đã phê duyệt việc sử dụng hoa lạc tiên để giải quyết tình trạng bồn chồn thần kinh, hoa lạc tiên được chỉ định đặc biệt cho những kích thích của não và hệ thần kinh với chứng mất ngủ, mất ngủ do lo lắng hoặc làm việc quá sức.
Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng Hoa lạc tiên có hiệu quả tương đương với Oxazepan trong điều trị bệnh nhân mắc chứng rối loạn lo âu, và được ưa chuộng hơn vì loài thảo dược này không làm giảm hiệu suất công việc. ( Akhondzadeh S, Naghavi HR, Vazirian M, et al. Hoa lạc tiên trong điều trị chứng lo âu tổng quát: Một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát mù đôi thí điểm với oxazepam. J Clinic Pharm Ther 2001;26:363–367.)
- Hiệu quả giảm đau đáng kinh ngạc từ cây Lạc tiên
Một nghiên cứu chỉ ra rằng chiết xuất từ cây Lạc tiên có khả năng giảm đau đáng kinh ngạc.
Để đánh giá tác dụng giảm đau của cây lạc tiên, các nhà nghiên cứu đã sử dụng dịch chiết Ethanol của cây (EEPF) thông qua thử nghiệm chuột đau quặng bụng do tác nhân acid acetic 0,6%. Sử dụng diclofenac natri làm chất đối chứng với dịch EEPF. Acid acetic được sử dụng để gây cơn đau quặng ở chuột; tác nhân này gây ra chứng đau nhức bằng cách giải phóng các chất nội sinh, từ đó kích thích các đầu dây thần kinh liên quan đến cảm giác đau.
Trong kết quả thử nghiệm trên, chất EEPF đã triệt tiêu đáng kể tần suất đau quằn quại do acid acetic gây ra ở chuột phụ thuộc vào liều lượng sử dụng (liều 250mg/kg, có khả năng ức chế quằn quại là 30%, ở liều 500mg/kg khả năng này tăng lên 68,75%)
- Tác dụng chống tiêu chảy của Lạc Tiên
Để nghiên cứu hoạt tính chống tiêu chảy của EEPF, các nhà khoa học đã sử dụng dầu thầu dầu gây tiêu chảy cho chuột, sau đó tiến hành điều trị bằng 2 phương pháp: sử dụng loperamid tiêu chuẩn và sử dụng dịch EEPF với liều 250mg/kg và liều 500mg/kg bằng đường uống. Những con chuột được đặt trong lồng riêng và có giấy hấp phụ bên dưới. Số đợt tiêu chảy cũng như lượng phân và lượng chất lỏng nhuộm giấy hấp phụ được theo dõi và ghi chép lại mỗi giờ. Qua nghiên cứu, kết quả theo dõi được phân tích và xác định EEPF có khả năng trì hoãn sự khởi đầu của bệnh tiêu chảy và giảm số đợt tiêu chảy.
Các nghiên cứu về hóa thực vật cho thấy trong EEPF có chứa đường khử, alkaloid, flavonoid, tanin, steroid, gôm và glycosid có tác dụng giảm đau, chống tiêu chảy. Các nhà nghiên cứu nhận định rằng loài cây Lạc tiên có tiềm năng là một nguồn thuốc thay thế tốt cho việc điều trị bệnh thấp khớp, viêm nhiễm, đau bụng và tiêu chảy.
- Khả năng kháng khuẩn chống viêm nhiễm của Lạc Tiên
Ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, các bệnh nhiễm trùng ở người, đặc biệt là các bệnh liên quan tới vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút, nấm ngày càng có xu hưởng trở nên nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, tình trạng kháng nhiều loại thuốc của vi sinh vật gây bệnh ở người ngày càng trở nên phổ biến do việc lạm dụng và sử dụng bừa bãi các loại thuốc chống vi trùng. Vì vậy mối quan tâm ngày càng tăng đối với y học cổ truyền nhằm phát hiện ra tác nhân điều trị mới. Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính rằng 80% dân số ở các nước đang phát triển vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống chủ yếu từ thực vật cho việc chăm sóc sức khỏe của họ.
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện ra một thành phần hóa học của hoa lạc tiên (passicol) có hoạt tính kháng khuẩn (Nicolls, 1970; Birner và Nicolls, 1973; Nicolls et al., 1973). 4 chủng vi khuẩn gây bệnh được sử dụng trong nghiên cứu này là Pseudomonas putida, Vibrio cholerae, Shigella flexneri và Streptococcus pyogenes. Nhóm nghiên cứu sử dụng dịch chiết dung môi ethanol và aceton của lá và quả của cây lạc tiên để làm thử nghiệm. Hiệu quả kháng khuẩn của dịch chiết được ghi nhận thông qua việc đo đường kính vùng ức chế. Kết quả phân tích cho thấy chiết xuất của ethanol và aceton của P.foetida có hiệu quả kháng khuẩn hơn đối với chủng Ps.putida, S. flexneri và V.cholerae. Chiết xuất của P. foetida trong dung môi của aceton còn chỉ ra tác dụng kháng khuẩn tuyệt với đối với chủng V.cholerae, sau đó là Ps.putida. (African Journal of Biotechnology Vol. 6 (23), pp. 2650-2653, 3 December, 2007)
- Tiềm năng trong hiệu quả chống oxi hóa và điều trị bệnh tiểu đường, ung thư vú
Vitexin (Apigenin-8-C-β-D-glucopyranosid) và isovitexin là một chất flavonoid tự nhiên được tìm thấy trong hoa lạc tiên có khả năng chống oxy hóa, chống viêm, chống xơ cứng động mạch (Gaitan và cộng sự ,1995), hạ huyết áp (Prabhakar và công sự 1981) (Pharmaceutical journal 2019). Gần đây, vitexin và isovitexin đã được chứng minh là có hiệu quả ức chế sự hình thành các phẩm cuối glycation (AGEs) được cho là có liên quan đến các biến chứng tiểu đường (Peng et al.2008).
Thế giới trong thế kỷ 21, ung thư vú là bệnh thường xảy ra nhất trong các bệnh ung thư và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Ung thư vú có thể dễ dàng lây lan từ vú cho tới các bộ phận trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra vai trò của Vitexin trong việc điều chỉnh ức chế miễn dịch của TME (thành phần phát triển khối u và ức chế miễn dịch) ( Journal of Functional Foods 95 (2022)), điều này góp phần không nhỏ trong việc phòng ngừa và điệu trị bệnh ung thư vú ở phụ nữ.
